Mất cân bằng giới tính khi sinh

Ngày 15/08/2019 10:19:39

Mất cân bằng giới tính khi sinh là số trẻ trai sinh ra còn sống cao hơn hoặc thấp hơn ngưỡng bình thường so với 100 trẻ gái. MCB GTKS xảy ra khi tỷ số giới tính nam khi sinh lớn hơn 106 hoặc nhỏ hơn 103 so với 100 trẻ nữ.
Mat-can-bang-gioi-tinh-khi-sinhB533BA7.jpg

Mất cân bằng giới tính khi sinh không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn xảy ra ở nhiều nước khác trên thế giới. Suốttừnhữngnăm1990chođếnnay,TSGTKSởTrungQuốcluônmứccaorấtcao:năm1990111,3/100,năm1995116,8/100,năm2000119,9/100,năm2005120,5/100giaiđoạn2009-2011vẫnmức118,1/100. Mặcdùđãtriểnkhainhiềugiảipháptổngthểmạnhmẽvềchínhtrị,phápluật,KT-XH,nhưngvẫnchưacókếtquảràng.Sựthayđổichậmchạp,thậmchírấtkhókhăndocácđịnhkiếnvềcontrai,congáiđãănsâu,bámrễhàngnghìnnămtrongphongtục,tậpquáncủacộngđồngdâncưngười dân.
Ở Việt Nam, vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh diễn ra muộn nhưng tốc độ gia tăng nhanh. Rà soát kết quả điều ta TĐTDS qua các năm từ 1979-2009 cho thấy, TSGTKS trong giai đoạn từ năm 1979 đến năm 1989 trong giới hạn bình thường (năm1979105/100,năm1989106/100); năm 1999 TSGTKS là 107/100– cao hơn tỷ số chuẩn chút ít và đã có có 36 tỉnh ít nhiều xảy ra MCBGTKS. Tuy nhiên đến năm 2009 TSGTKS đã ở mức 110,6/100. Các cuộc Điều tra biến động dân số (BĐDS) hàng năm cũng phản ánh xu hướng tăng liên tục của TSGTKS (TSGTKS năm 2006 là 110; TSGTKSnăm 2007 là 111; năm 2008 là 112,1; năm 2009 là 110,5 và thời điểm 01 tháng 4 năm 2010 là 111,2)
Như vậy, mặc dù TSGTKS đã có dấu hiệu gia tăng từ năm 1999, tuy nhiên, bắt đầu từ 2006, tỷ số giới tính khi sinh bắt đầu tăng và trở thành thách thức lớn với công tác dân số và nỗi lo lớn với các nhà hoạch định chính sách.
Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh của địa phương: Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh hoặc Trung Tâm Dân số-KHHGĐ huyện thu thập các thông tin, số liệu liên quan để đưa vàomục này.
Thưa quý vị và các bạn!
Kết quả các nghiên cứu ban đầu ở Việt Nam cho thấy, có ba nhóm nguyên nhân dẫn tới tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh như sau:
Nhóm nguyên nhân cơ bản
Việt Nam là một quốc gia châu Á có nền văn hoá truyền thống, trong đó tư tưởng Nho giáo đóng vai trò chủ đạo. Tâm lý ưa thích con trai ăn sâu trong tâm thức nhiều người.
Trong nền văn hoá đó, tâm lý ưa thích con trai trở lên mãnh liệt cho mỗi cá nhân, mỗi cặp vợ chồng, mỗi gia đình và mỗi dòng họ. Ví dụ như: từ khi chuẩn bị kết hôn, nhà trai phải chủ động, ngay trên thiếp mời dự đám cưới, phông chữ trang trí cũng thường lấy tên nhà trai trước. Khi cưới xong con gái theo chồng, lo cho nhà chồng. Người chồng thường là chủ hộ trong gia đình, có quyền quyết định những việc lớn. Đến khi có con, phải theo họ của bố. Khi cha mẹ chết, con trai được đứng trước, con gái đứng sau, chỉ có cháu trai mới được bê bát hương ông, bà; con trai mới được vào nơi thờ tự, đóng góp giỗ tổ tiên.
Tất cả những điều đó đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi cá nhân, và trở thành một phần của nền văn hoá truyền thống Việt Nam. Ưa chuộng con trai chính là nguyên nhân gốc rễ của hiện tượng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam.
Nhóm nguyên nhân phụ trợ:
- Hệ thống an sinh xã hội cho người cao tuổi chưa phát triển. Ở các khu vực nông thôn, nơi có tới 70% dân số đang sinh sống. Người già hầu hết không có lương hưu, hay trợ cấp xã hội, họ cần sự chăm sóc về y tế. Tất cả phụ thuộc vào khả năng phụng dưỡng của con cái, mà theo quan niệm của gia đình truyền thống, trách nhiệm đó chủ yếu thuộc về con trai. Người già vì thế sẽ cảm thấy lo lắng cho tương lai và bất an khi về già nếu không có con trai.
- Do nhu cầu phát triển kinh tế hộ gia đình. Ở nhiều vùng nông thôn, các công việc nặng nhọc, đặc biệt là công việc trong các ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp, khai thác khoáng sản, đi biển đánh bắt thuỷ hải sản xa bờ đều đòi hỏi sức lao động cơ bắp của nam giới. Chính vì vậy, con trai vừa là trụ cột về tinh thần, vừa là trụ cột về kinh tế cho cả gia đình.
- Những chính sách giải quyết các vấn đề liên quan đến bất bình đẳng giới chưa thật thỏa đáng cũng góp phần thúc đẩy một số phụ nữ chủ động tìm kiếm các dịch vụ lựa giới tính trước sinh.
- Những chuẩn mực xã hội mới như gia đình qui mô nhỏ cũng tạo áp lực giảm sinh, khi mỗi cặp vợ chồng chỉ sinh 1-2 con. Điều này dường như xung đột với giá trị văn hoá truyền thống là phải có con trai bằng mọi giá. Chính sự xung đột này đã tạo áp lực đối với các cặp vợ chồng: vừa mong muốn có ít con, lại mong muốn trong số đó phải có con trai. Đây là động lực khiến các cặp vợ chồng tìm kiếm và sử dụng các dịch vụ lựa chọn giới tính trước sinh. Những tiến bộ trong y học, nhất là các kỹ thuật lựa chọn giới tính trước sinh đã trở thành như một cứu cánh đối với một số cặp vợ chồng để đáp ứng được cả 2 mục tiêu.
Nguyên nhân trực tiếp: Lạm dụng những tiến bộ khoa học công nghệ để thực hiện lựa chọn giới tính trước sinh như:
- Áp dụng một số kỹ thuật trước lúc có thai (chế độ ăn uống, chọn ngày phóng noãn…);
- Áp dụng một số kỹ thuật trong lúc thụ thai (chọn thời điểm phóng noãn, chọn phương pháp thụ tinh, lọc rửa tinh trùng để chọn tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y,…);
Áp dụng một số kỹ thuật sau khi đã có thai (sử dụng siêu âm, bắt mạch, chọc hút dịch ối,…) để chẩn đoán giới tính thai nhi, sinh kết hợp với phá thai chọn lọc giới tính (nếu là thai trai thì để lại, nếu là thai gái thì bỏ đi).
Thực tế cho thấy, nhu cầu và mong muốn con trai của các cặp vợ chồng dù lớn đến đâu cũng chỉ có thể thực hiện được với sự trợ giúp của cán bộ y tế. Trong những năm qua, hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân nói chung và sức khoẻ sinh sản nói riêng ở Việt Nam ngày càng tốt hơn. Trang thiết bị hiện đại, đội ngũ hành nghề y, dược trong và ngoài công lập có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ngày càng cao. Sự phát triển này, một mặt góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho người dân, mặt khác cũng làm nảy sinh tình trạng lạm dụng các kỹ thuật như siêu âm, phá thai vì mục đích lựa chọn giới tính, tác động tới tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh.
Ở Việt Nam, Pháp lệnh Dân số đã có quy định nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức, tuy nhiên, việc thực hiện các quy định này chưa chưa nghiêm.
Hệ lụy của mất cân bằng giới tính khi sinh:
Namgiớikhókếthôn,kếthônmuộn,thậmchíkhôngthểkếthôndokhôngtìm đượcbạnđờidẫnđếnphải tìmcôdâu ngườinướcngoài.Trongkhiviệckếthônvớingườinướcngoàicũngcónhiềuvấnđề này sinhnhư:khácbiệtlớnvềvănhóa,ngônngữ…sẽdẫnđếnnguycơảnhhưởngđốivớigiađình,phânbiệt đốixửmất bìnhđẳnggiới;
Namgiớiđếntuổikếthônnhưngkhônglấyđượcvợthiếuphụnữ,đãdẫnđếngia tăngtội phạm vềtình dục,lừađảo,bắt cóc,buônbánphụnữ;tăngtệnạnmạidâm,hiếpdâmphụnữ...tăngnguycơlâynhiễmHIVbệnhhội,gâybấtổnvềchínhtrị,kinhtếhội.
Ngoài ra,dogiađìnhnhàchồnghoặcngườichồngmuốncontrai,khingườivợkhôngsinhđượccontraitheoýmuốn,ngườichồngbỏrơihoặclydịvợ;giađìnhchồngépngười chồngbỏrơivợ,haycặpvợchồngđẻđượccongái,chocongái đilàm connuôi…
TìnhtrạngMCBGTKSđãđểlạinhiềuhậuquảnghiêmtrọngở1sốnướcthậmchícònnghiêmtrọnghơnsovớiViệtNamnhưhiệntượnggiếtchếttrẻem gái mới sinh(rải rácxuất hiệnởẤnĐộ,TrungQuốc).
Hiệnnay,hàngtrămngàncôdâuViệtNamởHànQuốc,ĐàiLoan;65%trongsốgần5000vụbuônbánngườipháthiệntrong5nămvừaquasốphụnữViệtNambịbán,bịlừađilấychồngTrungQuốc,cólẽđónhữngbằngchứngđiểnhìnhvềhậuquảMCBGTKS.
Thưa quý vị và các bạn!
Ngay từ năm2003, Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa XI đã ban hành Pháp lệnh Dân số; Chính phủ ban hành Nghị định số 104/2003/NĐ-CP ngày 16 tháng 9 năm 2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Dân số; Nghị định 114/2006/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2006 quy định xử phạt vi phạm hành chính về dân số và trẻ em và gần đây Quốc hội đã ban hành Luật Bình đẳng giới ngày 29 tháng 11 năm 2006; Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 đều đã quy định nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi.
Bộ Y tế đã ban hành văn bản số 3121/BYT-BMTE ngày 21 tháng 5 năm 2009 về việc nghiêm cấm lạm dụng kỹ thuật cao để lựa chọn giới tính thai nhi; hằng năm đều có hướng dẫn các quy định về nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi và can thiệp để làm giảm tình trạng mất cân bằng GTKS.
Tăng cường tuyên truyền về thực trạng, nguyên nhân và hệ lụy mất cân bằng giới tính khi sinh; các văn bản pháp luật quy định nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi trên các phương tiện truyền thông đại chúng và trong các buổi sinh hoạt của đoàn thể, thôn/ xóm...
Trung ương và các địa phương đã tổ chức nhiều đoàn thanh tra, kiểm tra các nhà xuất bản, các trang thông tin điện tử, các nhà sách,… phát hiện, thu hồi những ấn phẩm hoặc yêu cầu dỡ bỏ những nội dung quảng bá, tuyên truyền, hướng dẫn việc sinh con theo ý muốn. Và tổ chức nhiều đoàn thanh tra, kiểm tra các cơ sở y tế công lập, các cơ sở y tế tư nhân, đặc biệt là các cơ sở siêu âm, các phòng khám sản phụ khoa - kế hoạch hóa gia đình để phát hiện, xử lý những trường hợp chẩn đoán giới tính thai nhi, phá thai vì lý do giới tính.

Mất cân bằng giới tính khi sinh

Đăng lúc: 15/08/2019 10:19:39 (GMT+7)

Mất cân bằng giới tính khi sinh là số trẻ trai sinh ra còn sống cao hơn hoặc thấp hơn ngưỡng bình thường so với 100 trẻ gái. MCB GTKS xảy ra khi tỷ số giới tính nam khi sinh lớn hơn 106 hoặc nhỏ hơn 103 so với 100 trẻ nữ.
Mat-can-bang-gioi-tinh-khi-sinhB533BA7.jpg

Mất cân bằng giới tính khi sinh không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn xảy ra ở nhiều nước khác trên thế giới. Suốttừnhữngnăm1990chođếnnay,TSGTKSởTrungQuốcluônmứccaorấtcao:năm1990111,3/100,năm1995116,8/100,năm2000119,9/100,năm2005120,5/100giaiđoạn2009-2011vẫnmức118,1/100. Mặcdùđãtriểnkhainhiềugiảipháptổngthểmạnhmẽvềchínhtrị,phápluật,KT-XH,nhưngvẫnchưacókếtquảràng.Sựthayđổichậmchạp,thậmchírấtkhókhăndocácđịnhkiếnvềcontrai,congáiđãănsâu,bámrễhàngnghìnnămtrongphongtục,tậpquáncủacộngđồngdâncưngười dân.
Ở Việt Nam, vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh diễn ra muộn nhưng tốc độ gia tăng nhanh. Rà soát kết quả điều ta TĐTDS qua các năm từ 1979-2009 cho thấy, TSGTKS trong giai đoạn từ năm 1979 đến năm 1989 trong giới hạn bình thường (năm1979105/100,năm1989106/100); năm 1999 TSGTKS là 107/100– cao hơn tỷ số chuẩn chút ít và đã có có 36 tỉnh ít nhiều xảy ra MCBGTKS. Tuy nhiên đến năm 2009 TSGTKS đã ở mức 110,6/100. Các cuộc Điều tra biến động dân số (BĐDS) hàng năm cũng phản ánh xu hướng tăng liên tục của TSGTKS (TSGTKS năm 2006 là 110; TSGTKSnăm 2007 là 111; năm 2008 là 112,1; năm 2009 là 110,5 và thời điểm 01 tháng 4 năm 2010 là 111,2)
Như vậy, mặc dù TSGTKS đã có dấu hiệu gia tăng từ năm 1999, tuy nhiên, bắt đầu từ 2006, tỷ số giới tính khi sinh bắt đầu tăng và trở thành thách thức lớn với công tác dân số và nỗi lo lớn với các nhà hoạch định chính sách.
Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh của địa phương: Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh hoặc Trung Tâm Dân số-KHHGĐ huyện thu thập các thông tin, số liệu liên quan để đưa vàomục này.
Thưa quý vị và các bạn!
Kết quả các nghiên cứu ban đầu ở Việt Nam cho thấy, có ba nhóm nguyên nhân dẫn tới tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh như sau:
Nhóm nguyên nhân cơ bản
Việt Nam là một quốc gia châu Á có nền văn hoá truyền thống, trong đó tư tưởng Nho giáo đóng vai trò chủ đạo. Tâm lý ưa thích con trai ăn sâu trong tâm thức nhiều người.
Trong nền văn hoá đó, tâm lý ưa thích con trai trở lên mãnh liệt cho mỗi cá nhân, mỗi cặp vợ chồng, mỗi gia đình và mỗi dòng họ. Ví dụ như: từ khi chuẩn bị kết hôn, nhà trai phải chủ động, ngay trên thiếp mời dự đám cưới, phông chữ trang trí cũng thường lấy tên nhà trai trước. Khi cưới xong con gái theo chồng, lo cho nhà chồng. Người chồng thường là chủ hộ trong gia đình, có quyền quyết định những việc lớn. Đến khi có con, phải theo họ của bố. Khi cha mẹ chết, con trai được đứng trước, con gái đứng sau, chỉ có cháu trai mới được bê bát hương ông, bà; con trai mới được vào nơi thờ tự, đóng góp giỗ tổ tiên.
Tất cả những điều đó đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi cá nhân, và trở thành một phần của nền văn hoá truyền thống Việt Nam. Ưa chuộng con trai chính là nguyên nhân gốc rễ của hiện tượng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam.
Nhóm nguyên nhân phụ trợ:
- Hệ thống an sinh xã hội cho người cao tuổi chưa phát triển. Ở các khu vực nông thôn, nơi có tới 70% dân số đang sinh sống. Người già hầu hết không có lương hưu, hay trợ cấp xã hội, họ cần sự chăm sóc về y tế. Tất cả phụ thuộc vào khả năng phụng dưỡng của con cái, mà theo quan niệm của gia đình truyền thống, trách nhiệm đó chủ yếu thuộc về con trai. Người già vì thế sẽ cảm thấy lo lắng cho tương lai và bất an khi về già nếu không có con trai.
- Do nhu cầu phát triển kinh tế hộ gia đình. Ở nhiều vùng nông thôn, các công việc nặng nhọc, đặc biệt là công việc trong các ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp, khai thác khoáng sản, đi biển đánh bắt thuỷ hải sản xa bờ đều đòi hỏi sức lao động cơ bắp của nam giới. Chính vì vậy, con trai vừa là trụ cột về tinh thần, vừa là trụ cột về kinh tế cho cả gia đình.
- Những chính sách giải quyết các vấn đề liên quan đến bất bình đẳng giới chưa thật thỏa đáng cũng góp phần thúc đẩy một số phụ nữ chủ động tìm kiếm các dịch vụ lựa giới tính trước sinh.
- Những chuẩn mực xã hội mới như gia đình qui mô nhỏ cũng tạo áp lực giảm sinh, khi mỗi cặp vợ chồng chỉ sinh 1-2 con. Điều này dường như xung đột với giá trị văn hoá truyền thống là phải có con trai bằng mọi giá. Chính sự xung đột này đã tạo áp lực đối với các cặp vợ chồng: vừa mong muốn có ít con, lại mong muốn trong số đó phải có con trai. Đây là động lực khiến các cặp vợ chồng tìm kiếm và sử dụng các dịch vụ lựa chọn giới tính trước sinh. Những tiến bộ trong y học, nhất là các kỹ thuật lựa chọn giới tính trước sinh đã trở thành như một cứu cánh đối với một số cặp vợ chồng để đáp ứng được cả 2 mục tiêu.
Nguyên nhân trực tiếp: Lạm dụng những tiến bộ khoa học công nghệ để thực hiện lựa chọn giới tính trước sinh như:
- Áp dụng một số kỹ thuật trước lúc có thai (chế độ ăn uống, chọn ngày phóng noãn…);
- Áp dụng một số kỹ thuật trong lúc thụ thai (chọn thời điểm phóng noãn, chọn phương pháp thụ tinh, lọc rửa tinh trùng để chọn tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y,…);
Áp dụng một số kỹ thuật sau khi đã có thai (sử dụng siêu âm, bắt mạch, chọc hút dịch ối,…) để chẩn đoán giới tính thai nhi, sinh kết hợp với phá thai chọn lọc giới tính (nếu là thai trai thì để lại, nếu là thai gái thì bỏ đi).
Thực tế cho thấy, nhu cầu và mong muốn con trai của các cặp vợ chồng dù lớn đến đâu cũng chỉ có thể thực hiện được với sự trợ giúp của cán bộ y tế. Trong những năm qua, hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân nói chung và sức khoẻ sinh sản nói riêng ở Việt Nam ngày càng tốt hơn. Trang thiết bị hiện đại, đội ngũ hành nghề y, dược trong và ngoài công lập có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ngày càng cao. Sự phát triển này, một mặt góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho người dân, mặt khác cũng làm nảy sinh tình trạng lạm dụng các kỹ thuật như siêu âm, phá thai vì mục đích lựa chọn giới tính, tác động tới tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh.
Ở Việt Nam, Pháp lệnh Dân số đã có quy định nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức, tuy nhiên, việc thực hiện các quy định này chưa chưa nghiêm.
Hệ lụy của mất cân bằng giới tính khi sinh:
Namgiớikhókếthôn,kếthônmuộn,thậmchíkhôngthểkếthôndokhôngtìm đượcbạnđờidẫnđếnphải tìmcôdâu ngườinướcngoài.Trongkhiviệckếthônvớingườinướcngoàicũngcónhiềuvấnđề này sinhnhư:khácbiệtlớnvềvănhóa,ngônngữ…sẽdẫnđếnnguycơảnhhưởngđốivớigiađình,phânbiệt đốixửmất bìnhđẳnggiới;
Namgiớiđếntuổikếthônnhưngkhônglấyđượcvợthiếuphụnữ,đãdẫnđếngia tăngtội phạm vềtình dục,lừađảo,bắt cóc,buônbánphụnữ;tăngtệnạnmạidâm,hiếpdâmphụnữ...tăngnguycơlâynhiễmHIVbệnhhội,gâybấtổnvềchínhtrị,kinhtếhội.
Ngoài ra,dogiađìnhnhàchồnghoặcngườichồngmuốncontrai,khingườivợkhôngsinhđượccontraitheoýmuốn,ngườichồngbỏrơihoặclydịvợ;giađìnhchồngépngười chồngbỏrơivợ,haycặpvợchồngđẻđượccongái,chocongái đilàm connuôi…
TìnhtrạngMCBGTKSđãđểlạinhiềuhậuquảnghiêmtrọngở1sốnướcthậmchícònnghiêmtrọnghơnsovớiViệtNamnhưhiệntượnggiếtchếttrẻem gái mới sinh(rải rácxuất hiệnởẤnĐộ,TrungQuốc).
Hiệnnay,hàngtrămngàncôdâuViệtNamởHànQuốc,ĐàiLoan;65%trongsốgần5000vụbuônbánngườipháthiệntrong5nămvừaquasốphụnữViệtNambịbán,bịlừađilấychồngTrungQuốc,cólẽđónhữngbằngchứngđiểnhìnhvềhậuquảMCBGTKS.
Thưa quý vị và các bạn!
Ngay từ năm2003, Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa XI đã ban hành Pháp lệnh Dân số; Chính phủ ban hành Nghị định số 104/2003/NĐ-CP ngày 16 tháng 9 năm 2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Dân số; Nghị định 114/2006/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2006 quy định xử phạt vi phạm hành chính về dân số và trẻ em và gần đây Quốc hội đã ban hành Luật Bình đẳng giới ngày 29 tháng 11 năm 2006; Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 đều đã quy định nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi.
Bộ Y tế đã ban hành văn bản số 3121/BYT-BMTE ngày 21 tháng 5 năm 2009 về việc nghiêm cấm lạm dụng kỹ thuật cao để lựa chọn giới tính thai nhi; hằng năm đều có hướng dẫn các quy định về nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi và can thiệp để làm giảm tình trạng mất cân bằng GTKS.
Tăng cường tuyên truyền về thực trạng, nguyên nhân và hệ lụy mất cân bằng giới tính khi sinh; các văn bản pháp luật quy định nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi trên các phương tiện truyền thông đại chúng và trong các buổi sinh hoạt của đoàn thể, thôn/ xóm...
Trung ương và các địa phương đã tổ chức nhiều đoàn thanh tra, kiểm tra các nhà xuất bản, các trang thông tin điện tử, các nhà sách,… phát hiện, thu hồi những ấn phẩm hoặc yêu cầu dỡ bỏ những nội dung quảng bá, tuyên truyền, hướng dẫn việc sinh con theo ý muốn. Và tổ chức nhiều đoàn thanh tra, kiểm tra các cơ sở y tế công lập, các cơ sở y tế tư nhân, đặc biệt là các cơ sở siêu âm, các phòng khám sản phụ khoa - kế hoạch hóa gia đình để phát hiện, xử lý những trường hợp chẩn đoán giới tính thai nhi, phá thai vì lý do giới tính.